20:47 EDT Thứ ba, 16/10/2018

Tin tức - sự kiện

Hỏi - Đáp

  Công dân hỏi
  Cơ quan trả lời

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 4


Hôm nayHôm nay : 194

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 4694

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 504787

Trang nhất » Tin Tức » Chính trị, kinh tế

UBND Xã Hoà Ninh triển khai hội nghị quán triệt, triển khai, kết luận hội nghị TW7 (Khoá XI)

Thứ sáu - 30/08/2013 22:18
Triển khai hội nghị quán triệt, triển khai, kết luận hội nghị TW7 (Khoá XI)

Triển khai hội nghị quán triệt, triển khai, kết luận hội nghị TW7 (Khoá XI)

Ngày 29/8/2013 tại Hội trường UBND xã Hoà Ninh đã triển khai hội nghị quán triệt, triển khai, kết luận hội nghị TW7 (Khoá XI), Những Chuyên đề học tập, quán triệt tại Hội nghị có nội dung rất thiết thực, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao. Qua đó giúp cho cán bộ, đảng viên hiểu sâu, nắm vững các nội dung cơ bản của các chủ trương, quan điểm của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XI) để xây dựng kế hoạch thực hiện các nghị quyết, kết luận tại các đảng bộ, chi bộ có hiệu quả.
Đến dự hội nghị có sự tham gia của các lãnh đạo xã Đồng chí Nguyễn Văn Quý Bí thư xã, Đồng chí Huỳnh Tân Chủ tịch xã, về phía ban thường vụ Đồng chí Bùi Quang Tiến Chủ tịch HDDND xã còn có sự hiện diện của Đồng chí Trần Văn Thuỷ (Ban tuyên giáo của Huyện) và toàn thể cán bộ công chức của xã.
Tại hội nghị Đồng chí Nguyễn Thanh Sơn PBT xã đã trình bày nội dung công tác dân vận:Trong những năm qua, Đảng bộ xã luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của xã Hòa Ninh. Đảng ủy và các cấp ủy Đảng đã thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, tạo sự đồng thuận, khơi dậy sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được củng cố; tổ chức được nhiều phong trào thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, góp phần xây dựng xã ngày càng văn minh, hiện đại.
          Kết quả công tác dân vận trên địa bàn xã đã góp phần củng cố mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo mối quan hệ tin cậy giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị với nhân dân.Trong những năm qua, Đảng bộ xã luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của xã Hòa Ninh. Đảng ủy và các cấp ủy Đảng đã thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác dân vận, tạo sự đồng thuận, khơi dậy sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được củng cố; tổ chức được nhiều phong trào thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, góp phần xây dựng xã ngày càng văn minh, hiện đại.
Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, cần quán triệt các quan điểm nêu trong Nghị quyết lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI):
          - Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
          - Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi ích cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh.
          - Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Mọi quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải nêu gương để nhân dân tin tưởng, noi theo.
          - Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong đó, Đảng lãnh đạo, Chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội làm tham mưu phối hợp và nòng cốt.
          - Tăng cường vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thực hiện công tác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học và hiệu quả
Về nhiệm vụ giải pháp:
- Tiếp tục triển khai và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” với phương châm “kiên trì, kiên quyết” để xây dựng tổ chức Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
          - Thực hiện tốt quy chế giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội; tổ chức có hiệu quả việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền.
- Tập trung nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, viên chức phải nắm chắc tình hình, sự việc và làm tốt công tác dân vận; hiểu dân, gương mẫu, tận tụy với công việc, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng, noi theo. Quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
          - Thường xuyên nắm bắt thông tin, dự báo những thay đổi cơ cấu xã hội, dân cư, diễn biến tình hình tư tưởng, tâm trạng, nguyện vọng và đời sống của nhân dân để có kiến nghị về chủ trương, chính sách phù hợp, đặc biệt là vùng giải tỏa di dời, vùng tôn giáo.
          - Việc xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện các chủ trương liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi trực tiếp của nhân dân phải công khai, dân chủ, lấy ý kiến tham gia của người dân hoặc người đại diện cho nhân dân.
            - Thực hiện nhanh và bền vững Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân.
- Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; làm tốt công tác tiếp dân và kịp thời giải quyết những bức xúc, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, không để xảy ra điểm nóng, khiếu kiện đông người, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp; giảm thiểu khiếu kiện.
Đồng chí Huỳnh Tân báo cáo chuyên đề về biến đổi khí hậu, thay đổi sinh thái tự nhiên:Mục tiêu đến năm 2020, về cơ bản chủ động thích ứng với BĐKH, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Đến năm 2050, chủ động ứng phó với BĐKH; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên; bảo đảm chất lượng môi trường sống và cân bằng sinh thái, phấn đấu đạt các chỉ tiêu về môi trường tương đương với mức hiện nay của các nước công nghiệp phát triển trong khu vực.
Về ứng phó với BĐKH: (i) Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát BĐKH của các cơ quan chuyên môn. Hình thành ý thức xã hội chủ động phòng, tránh thiên tai, thích ứng với BĐKH. Giảm dần thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra; (ii) Chủ động phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng đối với vùng ven biển, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung, trước hết là khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau và các thành phố ven biển khác; (iii) Giảm mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP từ 8 - 10% so với năm 2010.
Về quản lý tài nguyên: (i) Đánh giá được tiềm năng, giá trị của các nguồn tài nguyên quan trọng trên đất liền. Đạt được bước tiến quan trọng trong điều tra cơ bản tài nguyên biển; (ii) Quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia. Ngăn chặn xu hướng suy giảm tài nguyên nước ngọt và tài nguyên rừng; nâng cao hiệu quả sử dụng nước trên một đơn vị GDP. Bảo đảm cân đối quỹ đất cho phát triển kinh tế - xã hội; giữ và sử dụng linh hoạt 3,8 triệu ha đất chuyên trồng lúa nhằm bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Khai thác hiệu quả và bền vững sinh thái, cảnh quan, tài nguyên sinh vật. Hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô; (iii) Chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng theo hướng tăng tỉ lệ năng lượng tái tạo, năng lượng mới lên trên 5% tổng năng lượng thương mại sơ cấp; giảm tiêu hao năng lượng tính trên một đơn vị GDP.
Về bảo vệ môi trường: (i) Không để phát sinh và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý; tiêu huỷ, xử lý trên 85% chất thải nguy hại, 100% chất thải y tế; tái sử dụng hoặc tái chế trên 65% rác thải sinh hoạt; (ii) Phấn đấu 95% dân cư thành thị và 90% dân cư nông thôn sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh. Kiểm soát an toàn, xử lý ô nhiễm môi trường do hậu quả chiến tranh. Nâng cao chất lượng môi trường không khí đô thị, khu đông dân cư. Cải thiện rõ rệt môi trường làng nghề và khu vực nông thôn; (iii) Quản lý khai thác hợp lý, sớm chấm dứt khai thác rừng tự nhiên, nâng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên lên trên 3 triệu ha; nâng độ che phủ của rừng lên trên 45%.
Để đạt được các mục tiêu trên, Nghị quyết cũng đưa ra các nhóm giải pháp chủ yếu: Một là, tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với BĐKH, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Hai là, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Ba là, tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường. Bốn là, đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính, tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực cho ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đến năm 2020 xoá bỏ các cơ chế, chính sách hỗ trợ giá đối với nhiên liệu hoá thạch; thực hiện bù giá 10 năm đầu đối với các dự án phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chế chất thải, sản xuất điện từ chất thải. Năm là, coi trọng hợp tác, hội nhập quốc tế về ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Đồng chí Bùi Quang Tiến báo cáo kết luận 34-35: Tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố, kiện toàn, đổi mới và phát huy hiệu quả hơn trước. Cụ thể:
- Nội dung, phương thức lãnh đạo của cấp ủy có nhiều đổi mới; hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền được nâng lên; Mặt trận và các đoàn thể phát huy vai trò vận động, tập hợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân; các tổ chức trong hệ thống chính trị xây dựng được quy chế làm việc, quy chế phối hợp trong công tác, tạo sự thống nhất đồng bộ trong hệ thống chính trị;
- Tổ chức bộ máy các cơ quan được sắp xếp, củng cố kiện toàn; chức năng nhiệm vụ được quy định cụ thể, tình trạng chồng chéo, trách nhiệm không rõ ràng từng bước được khắc phục. Năng lực chỉ đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ công chức được nâng cao; phong cách, lề lối làm việc được đổi mới; công tác cải cách thủ tục hành chính được quan tâm và đẩy mạnh;
- Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, đề bạt, luân chuyển có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ; chính sách cán bộ được quan tâm như hỗ trợ kinh phí, động viên cán bộ nghỉ thôi việc, nghỉ hưu trước tuổi, hỗ trợ công tác phí cho cán bộ huyện luân chuyển về xã; chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng nâng cao về trình độ và năng lực công tác. Thực hiện nghiêm túc việc bổ nhiệm thông qua thi tuyển, kiên quyết không bổ nhiệm lại đối với cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín thấp; đẩy mạnh việc luân chuyển cán bộ chuyên môn theo Nghị định 158/NĐ-CP của Chính phủ.
Cuối cùng Đồng chí Nguyễn Văn Quý: kết luận hội nghị và đánh giá kết quả của hội
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Giới thiệu về Xã Hòa Ninh

Đặc điểm tự nhiên,  Vị trí địa lý:Diện tích: Hòa Ninh là một xã miền núi của huyện Hòa Vang có tổng diện tích tự nhiên là 10.519 ha đây là diện tích tương đối lớn.Địa hình : Hòa Ninh thuộc dạng bán sơn địa, gần một nữa diện tích là đồi núi (nơi cao nhất là Đỉnh Núi Chúa- Bà Nà cao 1487m so với...